Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Từ “Bụi đời Chợ Lớn” nhìn lại cái chết của phim mì ăn liền

Từ “Bụi đời Chợ Lớn” nhìn lại cái chết của phim mì ăn liền


Vừa qua, giới điện ảnh đang hết sức xôn xao quanh sự kiện bộ phim Bụi đời Chợ Lớn chưa kịp phát hành đã bị cơ quan kiểm duyệt “đập” te tua, tuy nhiên, những lý do kiểm duyệt mà Hội đồng Trung ương Thẩm định Phim truyện đưa ra không thuyết phục được công chúng say mê môn nghệ thuật thứ bảy. Nhưng chắc chắn, sẽ lại thêm một phim “made in Vietnam” nữa không thể phục vụ khán giả với tất cả cảm xúc đáng lẽ có. Giọt nước đã tràn ly và giai đoạn bết bát của điện ảnh Việt Nam chưa được vãn hồi. Nhớ lại chặng đường dài trước đây của nó, không biết ai đó từng giật mình nhận ra, giai đoạn phồn thịnh của điện ảnh Việt Nam thường rất ngắn ngủi và hậu thế lại luôn coi các thời kỳ đó là “có vấn đề”. Gần đây nhất (nhưng cũng đã hai thập niên trôi qua rồi) chúng ta chứng kiến sức phát triển vũ bão của PHIM MÌ ĂN LIỀN (khẩu ngữ để chỉ dòng phim thị trường thập niên 1980-1990), mà đến nay chưa hoàn toàn phai nhạt trong ký ức người ái mộ điện ảnh. Vì sao nó “chết” và “chết” như thế nào ?…

http://image1.xahoi.com.vn/news/2013/1/9/giai-nhan-ly-hung.jpg
Bốn gương mặt mĩ nhân của dòng phim mì ăn liền : Diễm Hương, Y Phụng, Việt Trinh, Giáng My.
Điện ảnh Việt Nam khởi phát từ bộ phim đầu tiên mang tên Kim Vân Kiều do học giả Nguyễn Văn Vĩnh sản xuất và phát hành vào khoảng năm 1923 – 1924, nhưng do những hạn chế về nhân lực và khả năng kỹ thuật, bên cạnh đó là biến động lịch sử (chiến tranh, thay đổi chính thể…), cho nên chỉ có khoảng ba giai đoạn lớn mà Điện ảnh Việt Nam thực sự bùng nổ sức phát triển – Đó là thập niên 1950 (Quốc gia Việt Nam), thập niên 1960 – 1970 (Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam), thập niên 1980 – 1990 (Việt Nam đương đại), như thế có nghĩa là rất ngắn ngủi và không xuyên suốt. Nhưng dẫu sao, sự phát triển của điện ảnh trong các thời kỳ này đều do sự cởi mở về tư duy của nhà quản lý và sự tương hỗ của quy luật cung – cầu (có công chúng, có đội ngũ nhà sản xuất và diễn viên hùng hậu, có hệ thống phát hành tốt) ; chưa kể là điều kiện chính trị – xã hội tương đối ổn định. Tuy vậy cũng phải khách quan nhìn nhận rằng, quy mô của Điện ảnh Việt Nam trước nay chỉ ở mức vừa phải, do quá tập trung tại hai đô thị là Hà Nội và Sài Gòn, mặc dù các đô thị khác cũng như một vài khu vực nông thôn không hề thiếu cơ sở phát triển cho điện ảnh, chỉ vì những nơi đó không được quan tâm nâng cao chất lượng.
Dòng phim mì ăn liền xuất hiện khi cuộc Chiến tranh Việt Nam qua đi, hậu quả của nó ít nhiều cũng được khắc phục và trong khoảng đầu thập niên 1980, nền kinh tế bao cấp – tự túc gây tổn hao sức lực và tâm trí người dân, nhu cầu lúc này của họ là được nghỉ ngơi và thư giãn. Những bộ phim khai thác đề tài chiến tranh đã trở nên khuôn phép, sáo mòn mặc dầu kinh phí cũng như kỹ thuật sản xuất không hề thấp kém. Phim mì ăn liền xuất hiện như luồng gió mát thổi vào căn nhà trống, ban đầu chỉ là những cuốn phim gợi nhớ tích truyện đạo đức nhà Phật (Ánh đạo vàng, Đôi mắt Thái tử Câu Na La…) hoặc khai thác tâm lý – tình cảm của những con người nhỏ bé (Con gái ông Thứ trưởng, Lá sầu riêng, Hoa quỳnh nở muộn…), kỹ thuật làm phim cũng như kinh phí sản xuất không cao, nhưng do kịch bản lôi cuốn và diễn xuất tốt, các bộ phim này lôi kéo được khán giả đến phòng chiếu và doanh thu cao hơn mong đợi của nhà sản xuất. Từ đây, cuộc “trường chinh” của dòng phim mì ăn liền bắt đầu và kéo dài cho đến cuối thập niên 1990 !
Website Wikipedia đã thống kê được chừng hơn 100 bộ phim nổi tiếng của dòng phim mì ăn liền – Đây là con số không hề nhỏ để đánh giá một giai đoạn điện ảnh, thậm chí xét dưới góc độ thẩm mĩ thì một số quan điểm trước nay cho rằng dòng phim mì ăn liền “yếu kém về mặt nghệ thuật, chạy theo lợi nhuận” là thiếu khách quan. Tác phẩm nghệ thuật được người nghệ sĩ sáng tạo ra không phải chỉ để lồng khung kính, mà tất yếu ẩn chứa triết lý cuộc đời và phục vụ được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng. “Vị nhân sinh” là nguyên tắc bất di bất dịch để cho ra đời một tác phẩm nghệ thuật, thiếu nó thì chỉ là phiến đất sét vô hình hài ; cho nên cũng không thể có cái gọi là “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh”. Nhìn lại phim mì ăn liền trước đây, mặc dù kỹ thuật làm phim đương thời còn giản đơn nhưng nó đã có đầy đủ tính cách của một dòng phim thị trường nhanh – mạnh – ổn định, mỗi năm có hàng chục bộ phim được sản xuất trên băng nhựa và băng video, bên cạnh đó là những sinh hoạt hết sức sôi động bên lề mỗi bộ phim – kịch bản hoặc scandal rò rỉ, các minh tinh được ái mộ nhờ nhân cách, tài năng và câu chuyện đời tư của họ luôn được báo giới cũng như công chúng quan tâm… không khác gì thời nay. Cần nhớ rằng, điện ảnh các quốc gia như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore… lúc đó cũng không hơn Việt Nam ; họ chỉ thực sự tung cánh phát triển vào khoảng cuối thập niên 1990 – khi dòng phim mì ăn liền của Việt Nam chấm dứt và Điện ảnh Việt Nam bắt đầu “thua trên sân nhà”. Ngày nay, Điện ảnh Việt Nam không hề kém cỏi về kỹ thuật sản xuất phim cũng như khâu phát hành, đáng mừng là giới làm phim tràn trề sức sống hơn trước (hệ thống đào tạo điện ảnh đã trở nên phổ thông hóa, luôn cập nhật sâu sát các kỹ năng làm phim và phê bình phim của thế giới ; các hoạt động điện ảnh ngày càng sôi động và quá trình làm phim được tiện lợi hóa nhờ công nghệ số…), nhưng phim ảnh Việt Nam vẫn hết sức èo uột, mỗi năm chỉ vài phim được chú ý và về khía cạnh nào đó thì có thể khẳng định, hoàn toàn thua kém dòng phim mì ăn liền trước đây. Tại sao thế ?
Vốn dĩ, dòng phim mì ăn liền nảy sinh do nhu cầu xã hội, nhưng sự phát triển “thuận buồm xuôi gió” của nó là do nhà sản xuất có uy tín, có chất lượng – thế hệ nhà làm phim như Lê Dân, Lê Hoàng Hoa, Lý Huỳnh, Lê Cung Bắc, Lê Mộng Hoàng… trưởng thành từ cái nôi Điện ảnh Việt Nam Cộng hòa, họ được đào tạo bài bản và đã cọ xát trong môi trường phim ảnh cạnh tranh trước 1975 cho nên có kinh nghiệm cũng như bản lĩnh đương đầu với cơn lốc kinh tế thị trường tự do (khi mà lợi nhuận mang ý nghĩa quyết định) ; thế hệ nhà làm phim sau 1975 như Phan Hoàng, Ngụy Ngữ, Nguyễn Cao Thụy, Cao Thành Danh, Phạm Thùy Nhân, Nhất Phương, Đào Thu, Châu Thổ, Đường Tuấn Ba, Lý Hùng… thì có sức trẻ và biết nắm bắt xu thế thị trường. Yếu tố tích cực tiếp theo là hãng sản xuất, hệ thống rạp chiếu phim cũng như nhà quảng cáo – phát hành có thừa số lượng và chất lượng, từ rất sớm đã cập nhật được kinh nghiệm sản xuất và phát hành phim của Hoa Kỳ, Hồng Kông, Nhật Bản. Một yếu tố quan trọng nữa là diễn viên – những gương mặt như Diễm Hương, Lý Hùng, Lê Công Tuấn Anh, Việt Trinh, Lê Tuấn Anh, Y Phụng, Công Hậu, Mộng Vân, Thu Hà, Hữu Nghĩa, Bảo Quốc, Thương Tín, Nguyễn Chánh Tín… được coi là “thương hiệu bảo chứng” cho doanh thu, mà đến giờ, công chúng yêu điện ảnh vẫn nhắc nhớ với sự ngưỡng mộ, nuối tiếc cũng như xót xa. Cặp đôi Lý Hùng – Diễm Hương thường được xem là hình ảnh biểu tượng của dòng phim mì ăn liền.
Trong vấn đề kịch bản, các nhà biên kịch đã hết sức khai thác thị hiếu cũng như ý tưởng từ mọi lĩnh vực – các câu chuyện dân gian, tích tuồng, giai thoại tôn giáo, tác phẩm văn học và thậm chí các câu chuyện kiếm hiệp vay mượn từ Trung Hoa… bên cạnh đó, cũng không quên xây dựng tuyến nhân vật cũng như tâm lý – tình cảm chắt lọc từ đời sống đương đại. Các bộ phim ăn khách nhất thời kỳ đó là : Áo trắng sân trường, Bên dòng sông Trẹm, Bông hồng đẫm lệ, Cảnh sát đặc khu, Cô thủ môn tội nghiệp, Đôi mắt Thái tử Câu Na La, Em và Michael Jackson, Hồng hải tặc, Kế hoạch 99, Lửa cháy thành Đại La, Ngôi nhà oan khốc, Ngọc Trảng thần công, Người nghèo vẫn cười, Nữ trinh sát đặc nhiệm, Phạm Công – Cúc Hoa, Sau những giấc mơ hồng, Sút… dzô, sút… dzô !, Sơn thần – thủy quái, Yêu nàng hoa hậu, Vĩnh biệt Cali, Vị đắng tình yêu, Tráng sĩ Bồ Đề, Truy nã tội phạm quốc tế, Tây Sơn hiệp khách, Nước mắt học trò… Những tình tiết bi hài, trinh thám, lãng mạn, thần bí… được triệt để tận dụng và nhiều khi hòa trộn vào nhau, tạo ra cảm xúc muôn màu cho mỗi bộ phim. Không chỉ loanh quanh trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà làm phim đã biết chủ động hợp tác với các nhà làm phim quốc tế (Hồng Kông, Đài Loan, Hoa Kỳ…) vừa để trao đổi kỹ thuật sản xuất vừa để nhân rộng đối tượng khán giả.
Nhìn chung, chỉ nhặt ra khoảng vài chục bộ phim mì ăn liền cũng có thể đánh giá rằng, chất lượng nghệ thuật của dòng phim này không tồi chút nào, mặc dầu phương tiện kỹ thuật còn thô vụng và kinh phí thường thấp. Từ cái nền tảng đó, nếu biết khai thác thì có lẽ Điện ảnh Việt Nam đã có thể phát triển mãnh liệt vào các giai đoạn kế tiếp – rõ ràng xuất phát điểm của chúng ta không hề thua kém những Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản… Nhưng ác thay, nhìn vào hiện trạng phim ảnh Việt Nam hiện nay, khó lòng tin tưởng nó sẽ phát triển thịnh vượng.
Phải thấy rằng, vào giai đoạn đó việc kiểm duyệt phim không hề gắt gao, có chăng chỉ liên quan đến các phim truyện do Nhà nước trực tiếp bỏ vốn (thường là phim tuyên giáo), chính sách quản lý xã hội nhìn chung cũng rất thoáng. Lối diễn xuất, lời ăn tiếng nói và phục sức của diễn viên khá tự do, thoải mái mặc dù thành kiến xã hội chưa hoàn toàn chấp nhận. Thời kỳ này, việc gây scandal để nổi tiếng là không hề có và các hành vi thóa mạ diễn viên trong công chúng cũng không được hoan nghênh, cho nên giữa nghệ sĩ và người yêu điện ảnh còn có sự tôn trọng lẫn nhau. Cachet mà diễn viên nhận được sau mỗi bộ phim là tùy thuộc doanh thu (tiêu chuẩn để đánh giá khả năng đạo diễn và diễn xuất), chứ không phải do diễn viên cậy nổi tiếng để cưỡng ép nhà sản xuất. Bởi vậy, vào giai đoạn phim mì ăn liền, mặc dầu điện ảnh thăng tiến nhanh nhưng bầu không khí vẫn hết sức lành mạnh.
Xem thêm :
Kiểm duyệt – Vòng kim cô của điện ảnh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét