Nhẫm tính tuổi đời, soi lại phận mình để thấy ngày tháng, cũng giống những cái bạc bẽo phù du ruồng rẫy ta mà đi, chỉ còn mỗi quá khứ, cả những lúc êm đềm hay gập gềnh của cuộc đời là không phụ ta, nó vẫn luôn bên ta, làm ấm lại lòng ta, bằng đôi cánh dĩ
vãng đã cất nhẹ cho tâm trí ta bay, đưa ta tìm về những ngày tháng cũ, những
ngày tháng đó có cả tiếng cười lẫn nước mắt.
Tôi vẫn có lệ mua vài củ mì vào cuối tháng tư, từ lúc những ngày mới ra tù khi hảy còn bên quê nhà, nó vừa như một vật để nhắc nhớ, vừa như một cái gì thân quen tôi tìm đến, nó là tôi của hèn kém và nó cũng là thức nuôi tôi những ngày khó của phận tù. Có lắm người bạn đi cùng phải nhăn mặt nói: -Ăn gì không ăn lại ăn khoai mì, hơn chục năm, không đủ để thù nó sao?… nhìn thấy nó là nhìn thấy những gì đen tối – Những lúc nghe bạn gắt như vậy, tôi chỉ cười cười.
Tôi vẫn có lệ mua vài củ mì vào cuối tháng tư, từ lúc những ngày mới ra tù khi hảy còn bên quê nhà, nó vừa như một vật để nhắc nhớ, vừa như một cái gì thân quen tôi tìm đến, nó là tôi của hèn kém và nó cũng là thức nuôi tôi những ngày khó của phận tù. Có lắm người bạn đi cùng phải nhăn mặt nói: -Ăn gì không ăn lại ăn khoai mì, hơn chục năm, không đủ để thù nó sao?… nhìn thấy nó là nhìn thấy những gì đen tối – Những lúc nghe bạn gắt như vậy, tôi chỉ cười cười.
Tháng tư lại về, hôm nay đã là ngày 26, hai củ mì mua hôm qua tại một chợ Mỹ vẫn còn nằm trên bàn, tôi để đó cho ngày cuối tháng tư luộc lên một thân một mình, tôi để dành riêng cho mỗi tôi – Tháng tư với tôi không gì ngoài nó nói lên đầy đủ cái nghĩa của ngày tháng này, có người cho rằng bây giờ đã là trên đất Mỹ, thì phải những gì là cao lương mới xứng dành để tự đãi mình, với tôi thì không.
Sau ngày ra tù, những ngày tháng đầy khó khăn, với chiếc xe thồ đi giao hàng dựng bên gốc cây, ngồi bệt dưới đất tựa lưng vào tường rào vườn bông, bữa cơm trưa là củ mì tôi thấy thấm được hết cái kiếp người trong thiên đường xã nghĩa. Lúc đó trước cổng vườn Ông Thượng, tức vườn Bờ-Rô cũ của Sàigòn xưa lúc còn mang tên Pháp, có một cô gái quê gánh đôi thúng hàng một bên là chuối nấu cùng mía, một bên khoai lang khoai mì.
Sau ngày ra tù, những ngày tháng đầy khó khăn, với chiếc xe thồ đi giao hàng dựng bên gốc cây, ngồi bệt dưới đất tựa lưng vào tường rào vườn bông, bữa cơm trưa là củ mì tôi thấy thấm được hết cái kiếp người trong thiên đường xã nghĩa. Lúc đó trước cổng vườn Ông Thượng, tức vườn Bờ-Rô cũ của Sàigòn xưa lúc còn mang tên Pháp, có một cô gái quê gánh đôi thúng hàng một bên là chuối nấu cùng mía, một bên khoai lang khoai mì.
Thời của bo bo thay cơm, củ khoai củ mì là ước mơ của người dân đói lòng mong được no. Vườn bông vắng không một bóng người, cô ngồi đó với gánh hàng nghèo nàn như thân phận của cô lẫn khách mua, tôi một khách quen của gánh hàng – Có những hôm mãi vội giao hàng không kịp ghé, cô vẫn giữ lại một ít như là để phần cho một người thân, hình như thượng đế sinh ra những người nghèo họ luôn có tấm lòng rộng mở.
-Anh ăn vậy có đủ no không, anh ăn thêm nghen –Cám ơn cô vậy đủ cho tôi rồi –Sao anh ăn ít
vậy, làm sao có
sức mà đạp xe…có nước nấu sôi mang theo xin mời anh uống –Đã bao nhiêu năm rồi cô à, tôi đã quen mỗi bữa chỉ một lóng khoai nhỏ cùng muỗng nước muối, dạ dày hình như đã thuần, nó không còn biết đòi thêm bao giờ, thôi cô bán
hàng nghen… tôi đi.
Trên đường đời thoảng một lúc nào đó, có những gặp gỡ đã đem đến cho ta vị ngọt của cuộc đời, cái chân tình của câu nói, hay
cái dịu dàng của ánh mắt làm ta ấm lòng. Nó ấm tựa ánh lửa sưởi cho kẻ đơn thân mãi trên đường đêm giá – Cô gái này chưa một lần trong câu chuyện xưng là tôi hay em, cái tránh né làm câu nói mang cái ngập ngừng thường thấy nơi người quê mình, vì ngượng hay vì không quen tỏ lộ tình cảm.
Người dân trong chiến tranh, cuộc đời đã quá nhiều đau thương tan tác, rồi sau 30-04 thật không còn chữ nghĩa nào để mà diễn tả cho hết cái cơ cực của người mình, cứ thông thường mà nghĩ thì sau chiến tranh đương nhiên đời sống dần phải đỡ hơn, nhưng không ngờ ngày càng thêm thê thảm, đời sống người dân bị cuốn vào cơn lốc xoáy của đói nghèo.
Người dân được nuôi sống bằng những thực phẫm mà từ ngay đời cha ông chưa từng phải ăn, người ta nói đó là thực phẫm chăn nuôi chính phủ xin được từ nước ngoài, người dân còn nói cùng nhau, cũng bởi nhà nước phải trả nợ cho tiền súng đạn ngày nào,
nên người dân phải gặp khó – Vậy còn máu xương những người đã nằm xuống ai trả đây, và làm sao trả?.
Một ngày nọ không còn thấy gánh hàng trước cổng vườn Ông Thượng nữa, cô gái quê nghèo tôi không còn gặp lại, đó là thời gian dân mình nghe nói bắt đầu có những người ngoại chủng mua gái Việt đem về xứ họ, cô gái nay ở đâu có ai đưa cô đi, xứ nào cô đến? – Còn tôi cũng đành phải tha hương sau những ngày đắng cay cơ cực.
Chấp nhận ra đi vì không còn sự lựa chọn, quê hương đã không còn cho người dân cuộc sống, chỉ đem tới những tù đầy khổ ải, nó cũng không còn là của tôi – Nơi xứ người tháng ngày cứ dần qua, trong nỗi buồn cho thân phận, tiếc thương cho quê hương, và trong lúc nhớ về quê nhà, tôi nhớ những buổi trưa, chiếc xe đạp thồ, cô gái quê cùng gánh hàng nghèo.
Năm nay lần thứ nhì cũng vào thứ sáu cuối tháng tư đen, anh Nguyễn Đức Trạch lại tụ những anh em tù ngồi lại với nhau nhớ về đất nước – Tôi mong sẽ đến được cùng anh, để hai anh em có dịp hàn huyên. Nhớ năm rồi vì bận chút chuyện riêng nên đến trể, bước vào đúng lúc anh đang ngâm bài thơ của anh, bài “đêm qua tôi mơ…”, nói lên ước mơ của anh cho quê hương.
Thực trạng quê nhà hôm nay tôi biết, ước mơ của anh tôi cũng mơ ước tương tự, nhưng nghe anh trình bày tôi xúc động vô cùng, vết thương trong tôi bao năm rồi vẫn chưa lành, nó luôn vỡ òa mỗi khi một ai đánh động – Anh bước xuông bục hai anh em mừng, gặp lại sau nhiều năm xa cách bằng một cái ôm, anh vẫn tràn đầy cái nhiệt huyết ngày nào, điều đó lộ hẳn qua thơ của anh, cảm sao diễn đạt làm vậy, chữ nghĩa mạnh bạo, không ngại ngay cả tiếng chửi thề.
Có những điều không phải chỉ mỗi riêng ta nghĩ đến, cũng có những người khác cùng suy nghĩ như ta,
hôm đó giữa chốn anh em tù gặp lại, một cái bàn phía bên trái lối đi,
với những cái khay khoai mì luộc, ẩm thực nhà thơ Trạch Gầm đãi mọi người là khoai mì – Anh không e dè, ai thích ai
không, ý của anh
chỉ là muốn nói lên một sự nhắc nhớ về căn cước của những người tù – Chào anh để về vì bận không thể ở đến cuối, ngang qua bàn tôi cầm lấy một miếng khoai, như thể xác nhận về thân phận
mình, và cũng là để nhớ về quê nhà đang đen tối.
Việt Nhân (HNPĐ)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét